Thứ ba, 07/02/2023, 05:46
Lên phía trên
Ông Tòng Văn Ướng ở bản Noong Hẻo 2, xã Noong Hẻo huyện Sìn Hồ hỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông bị sai tên thì ông phải làm thủ tục gì để đính chính.
Câu hỏi:
Ông Tòng Văn Ướng ở bản Noong Hẻo 2, xã Noong Hẻo huyện Sìn Hồ hỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông bị sai tên thì ông phải làm thủ tục gì để đính chính.
Trả lời:
Căn cứ Khoản 1 Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định:
Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
- Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
- Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.
- Ông cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất. Hồ sơ gồm có:
+ Đơn đề nghị được đính chính;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính);
+ Giấy tờ chứng minh về việc sai tên như: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu,… (Bản sao)
 
Lên phía trên
Ông Chang A Phòng ở Bản Nậm Béo, xã Pu sam Cáp hỏi gia đình ông đang có tranh chấp đất với hàng xóm, sau nhiều lần hòa giải ở cơ sở nhưng không thành ...
Câu hỏi:
Ông Chang A Phòng ở Bản Nậm Béo, xã Pu sam Cáp hỏi gia đình ông đang có tranh chấp đất với hàng xóm, sau nhiều lần hòa giải ở cơ sở nhưng không thành ( Có biên bản hòa giải), ông đã nộp đơn lên Tòa án nhân dân huyện để giải quyết nhưng Tòa án nhân huyện đã không thụ lý đơn của ông vì lý do tranh chấp chưa được UBND xã giải quyết. Việc Tào án nhân dân huyện không thụ lý đơn có đúng không? Ông có phải gửi đơn lên UBND xã để giải quyết hay không?
Trả lời:
+ Căn cứ Điều 202 Luật đất đai 2013 quy định: Hòa giải tự nguyện và hòa giải tại cơ sở là hình thức hòa giải được Nhà nước khuyến khích khi xảy ra tranh chấp. Theo đó, trường hợp các bên không thể tự hòa giải thì gửi đơn đến UBND xã nơi có đất tranh chấp để tiến hành hòa giải
+  Căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định rõ, với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp thì được xác định là chưa đủ điều kiện để khởi kiện.
Như vậy, trường hợp xảy ra tranh chấp đất đai, nếu ông muốn khởi kiện tại Tòa án thì trước tiên ông cần gủi đơn lên UBND xã nơi có đất tranh chấp theo trình tự, thủ tục quy định.
Do đó, việc Tòa án từ chối thụ lý đơn khởi kiện của ông là hoàn toàn có căn cứ, ông phải thực hiện theo đúng quy trình vì việc  hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai.
 
Lên phía trên
Ông Thần A Thóc ở Bản Hồng Quảng 2 xã Pa Khóa hỏi gia đình ông bị mất sổ đỏ thì có được cấp lại không?
Câu hỏi:
Ông Thần A Thóc ở Bản Hồng Quảng 2 xã Pa Khóa hỏi gia đình ông bị mất sổ đỏ thì có được cấp lại không?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 99 Luật đất đai năm 2013, thì Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho trường hợp người sử dụng đất đề nghị cấp lại giấy chứng nhận đã bị mất.
Để thực hiện thủ tục cấp lại sổ đỏ, người thừa kế cần được công nhận là người sử dụng đất đối với mảnh đất này, hay nói cách khác là xác nhận quyền tài sản đối với di sản thừa kế, ở trường hợp này là quyền sử dụng đất đối với mảnh đất bằng việc khai nhận di sản thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. theo đó, những người thừa kế theo pháp luật có thể thực hiện việc nhận thừa kế thông qua văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc văn bản khai nhận di sản thừa kế. cụ thể:
– Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế: Những người thừa kế theo pháp luật có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. trong đó, người thừa kế có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người khác.
– Văn bản khai nhận di sản thừa kế: Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản.
Việc khai nhận di sản thừa kế trong trường hợp mất
 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện như sau:
– Người thừa kế cần yêu cầu UBND cấp xã (văn phòng đăng ký đất đai) xác nhận việc sở hữu quyền sử dụng đất đối với mảnh đất để văn phòng công chứng có cơ sở làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
– Nộp bộ hồ sơ yêu cầu công chứng tới văn phòng công chứng nơi có bất động sản. hồ sơ phải đầy đủ các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại điều 40, điều 57 và 58 Luật công chứng năm 2014, bao gồm:
+ Phiếu yêu cầu công chứng;
+ Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng;
+ Giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết;
+ Dự thảo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc VB khai nhận di sản thừa kế ( nếu có )
+ Các giấy tờ chứng minh nhận thân như CMND/CCCD… của người thừa kế…
+ Giấy tờ xác nhận của UBND xã về việc sở hữu mảnh đất
Sau khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc văn bản khai nhận thừa kế xong, người thừa kế thực hiện thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
 
Lên phía trên
Ông Mùa A Tủa ở Bản Sà Dề Phìn, huyện Sìn Hồ hỏi cách chia thừa kế nhà đất là tài sản chung của vợ chồng
Câu hỏi:
Ông Mùa A Tủa ở Bản Sà Dề Phìn, huyện Sìn Hồ hỏi cách chia thừa kế nhà đất là tài sản chung của vợ chồng
Trả lời:
Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Theo đó, khi vợ hoặc chồng chết thì di sản thừa kế được xác định gồm tài sản riêng của người đó và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với vợ, chồng hoặc với người khác.
Điều đó, đồng nghĩa với việc nếu nhà đất là tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi.
Sau khi xác định được di sản thừa kế sẽ thực hiện chia di sản theo quy định sau đây:
- Chia thừa kế khi có di chúc hợp pháp
Căn cứ hoản 2 Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
Nói cách khác, người thừa kế được hưởng phần di sản bao nhiêu phụ thuộc vào nội dung di chúc đó, trừ trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.
Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:
 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
 Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Như vậy, con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên mà không có khả năng lao động của người lập di chúc sẽ được hưởng phần di sản thừa kế bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Lưu ý: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trên đây không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản.
   - Cách chia thừa kế nhà đất theo pháp luật
Căn cứ khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, nhà đất được chia thừa kế theo pháp luật trong những trường hợp sau:
 Không có di chúc.
 Di chúc không hợp pháp.
 Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
 Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản là nhà đất sau:
 Phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
 Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật.
 Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
* Người được hưởng thừa kế theo pháp luật
Căn cứ Điều 649 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, người được hưởng thừa kế theo pháp luật là người thuộc diện thừa kế và hàng thừa kế.
- Diện thừa kế: Là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng (cha, mẹ nuôi với con nuôi,…) với người để lại di sản.
- Hàng thừa kế:
Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hàng thừa kế theo thứ tự sau:
 + Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
 + Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.".
Lưu ý: Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
-  Người thừa kế được hưởng di sản bằng nhau
Khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nếu nhà đất được chia thừa kế theo pháp luật thì người thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.
 
Lên phía trên
Ông Lò Văn Chướng hỏi cách lập di chúc để lại đất cho con như thế nào? Việc lập di chúc có cần phải sự đồng ý của các con hay không.
Câu hỏi:
Ông Lò Văn Chướng hỏi cách lập di chúc để lại đất cho con như thế nào? Việc lập di chúc có cần phải sự đồng ý của các con hay không.
Trả lời:
* Khi lập di chúc để lại đất cho con, cần lưu ý một số nội dung trong di chúc như sau:
- Thông tin của người để lại di chúc: Ghi rõ thông tin ngày, tháng, năm sinh cùng thông tin số Chứng minh nhân dân hoặc số Căn cước công dân hoặc số hộ chiếu còn hạn nếu không có Chứng minh hoặc Căn cước cùng thông tin về hộ khẩu thường trú hoặc chỗ ở hiện tại nếu không có nơi thường trú, tạm trú.
- Khẳng định trạng thái tinh thần của bản thân người lập di chúc: Minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối hay đe doạ hay cưỡng ép từ những người khác.
- Thông tin về tài sản: Vì đây là di chúc để lại đất cho con nên tài sản trong di chúc bắt buộc phải có thông tin về quyền sử dụng đất. Đây phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại di chúc. Thông tin về tài sản phải gồm: Thông tin về Sổ đỏ, diện tích, địa chỉ, thửa đất, tờ bản đồ… và tài sản gắn liền với đất (nếu có).
- Thông tin về người được nhận di sản thừa kế: Tương tự như người để lại di chúc, thông tin về người nhận di sản theo di chúc cũng phải gồm họ tên; ngày, tháng, năm sinh; thông tin về giấy tờ tuỳ thân, nơi cư trú.
- Ngoài việc để lại di sản là quyền sử dụng đất cho các con, người lập di chúc có thể nêu ý nguyện của mình trong bản di chúc này.
- Nếu di chúc được lập có nhiều trang, tờ thì người lập di chúc phải ghi rõ di chúc có bao nhiêu trang, tờ và đánh số thứ tự đầy đủ…
 * Lập di chúc để lại đất cho con có cần tất cả người con đồng ý?
Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu rõ, di chúc là ý chí của người lập di chúc khi muốn chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi người lập di chúc chết. Do đó, có thể thấy, lập di chúc là ý nguyện của người lập di chúc.
 Khoản 1 Điều 625 Bộ luật Dân sự quy định:
- Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
Khi lập di chúc, người để lại tài sản cho người khác sau khi chết có toàn quyền trong việc quyết định để lại di sản cho ai hay thậm chí là truất quyền hưởng thừa kế của người thừa kế hợp pháp của mình.
Như vậy, khi lập di chúc để lại đất cho con, cha mẹ có quyền quyết định để lại cho bất kỳ người con nào mà không cần sự đồng ý của những người con còn lại hay thậm chí cũng không cần sự đồng ý của cả người con được hưởng thừa kế.
Nếu sau khi di chúc có hiệu lực, người này không muốn nhận di sản thì có thể từ chối nhận di sản thừa kế.
 
Lên phía trên
Ông Lò Văn Hòa hỏi hiện ông đang có mảnh đất thổ canh nay muốn chuyển đổi sang thổ cư thì thủ tục như thế nào và trình tự thực hiện ra làm sao?
Câu hỏi:
Ông Lò Văn Hòa hỏi hiện ông đang có mảnh đất thổ canh nay muốn chuyển đổi sang thổ cư thì thủ tục như thế nào và trình tự thực hiện ra làm sao?
Trả lời:
1. Chuyển mục đích sử dụng đất là gì?
Chuyển mục đích sử dụng đất là sự thay đổi về mục đích sử dụng đất so với loại đất ban đầu bằng quyết định hành chính trong trường hợp phải xin phép hoặc chỉ cần đăng ký đất đai trong trường hợp không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đất thổ canh là đất trồng trọt, đây là cách gọi phổ biến của người dân từ những năm 90 trở về trước. Hiện nay, cách gọi đất thổ canh dần được thay thế bằng cách gọi theo pháp luật đất đai là đất nông nghiệp.
Đất thổ cư là cách gọi phổ biến của người dân dùng để chỉ đất ở, gồm đất ở tại nông thôn (ký hiệu là ONT), đất ở tại đô thị (ký hiệu là OĐT) là một bộ phận của đất phi nông nghiệp.
2. Căn cứ cho chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư
Điều 52 Luật đất đai 2013 quy định căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm:
- Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất.
Như vậy, luật không quy định cụ thể về điều kiện để được chuyển mục đích sử dụng đất mà sẽ tùy vào thời điểm thực tế, kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được phê duyệt mà cơ quan có thẩm quyền quyết định cho hoặc không cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang thổ cư.
3. Khi nào chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải xin phép?
Căn cứ khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai năm 2013, những trường hợp dưới đây khi chuyển mục đích phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
– Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối.
– Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm.
– Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp.
– Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. (tức là từ đất thổ canh sang thổ cư – đất ở)
– Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất.
– Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở.
– Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.
Như vậy, khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất thổ canh sang đất thổ cư ông cần thực hiện thủ tục theo quy định pháp luật để được sử dụng đất hợp pháp.
4. Thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
Điều 59 Luật Đất đai 2013 quy định thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất như sau:
– UBND cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đối với tổ chức.
– UBND cấp huyện có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đối với hộ gia đình, cá nhân.
Trường hợp cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định.
Như vậy, nếu hộ gia đình, cá nhân xin phép chuyển mục đích sử dụng đất thì trong đơn xin chuyển phải ghi rõ là: Kính gửi Ủy ban nhân dân + tên huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương nơi có đất.
5. Thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất thổ canh sang đất thổ cư
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ bao gồm:
  • Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất (Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BNTMT);
– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có) sau:
+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
    + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
+ Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ nêu trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp.
        + Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
Bước 2: Nộp hồ sơ: Nơi nộp hồ sơ (áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân):
Cách 1: Nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa cấp huyện để chuyển cho Phòng Tài nguyên và Môi trường.
Cách 2: Nơi chưa tổ chức bộ phận một cửa sẽ nộp trực tiếp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường.
Bước 3: Tiếp nhận hồ sơ
          Phòng Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa; xem xét tính phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với trường hợp chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết; chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc làm trích sao hồ sơ địa chính.   
         + Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất làm trích sao hồ sơ địa chính gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường và gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính.

           + Phòng Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất; chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ký lại hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất.
Bước 4: Trả kết quả: Phòng Tài nguyên và Môi trường trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chỉnh lý lại cho người sử dụng đất.
Bước 5: Thời hạn giải quyết: Không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; không quá 25 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Thời gian trên không tính thời gian các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.
 
Lên phía trên
Ông Tòng Văn Họi hỏi gia đình ông có bị thu hồi đất vườn để mở rộng quốc lộ, nhưng vườn nhà ông hiện đang trồng rất nhiều cây ăn quả sắp đến ngày thu hoạch, vậy ông có được bồi thường đối với cây trồng hay không?
Câu hỏi:
Ông Tòng Văn Họi hỏi gia đình ông có bị thu hồi đất vườn để mở rộng quốc lộ, nhưng vườn nhà ông hiện đang trồng rất nhiều cây ăn quả sắp đến ngày thu hoạch, vậy ông có được bồi thường đối với cây trồng hay không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 90 Luật Đất đai quy định như sau:
- Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
+  Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;
+ Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;
+ Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;
 + Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
 
Lên phía trên
Ông Lò Văn Kỳ hỏi nhà ông có mảnh đất đồi trồng cây lâu năm (Mắc ca). Nay huyện thu hồi để mở đường thì tôi được đền bù bao nhiêu tiền 1m2, cây Mắc ca tôi đã trồng được gần 4 năm ?
Câu hỏi:
Ông Lò Văn Kỳ hỏi nhà ông có mảnh đất đồi trồng cây lâu năm (Mắc ca). Nay huyện thu hồi để mở đường thì tôi được đền bù bao nhiêu tiền 1m2, cây Mắc ca tôi đã trồng được gần 4 năm ?
Trả lời:
Căn cứ Điều 90 Luật đất đai năm 2013 quy định về Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi như sau:
- Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
+ Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;
+ Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;
+ Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;
+ Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Vì vậy, ông có đất trồng cây lâu năm, khi bị nhà nước thu hồi đất thì mức bồi thường được tính bằng giá hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất.
 
Lên phía trên
Gia đình ông Phàn A Hặc có 5 người con nhưng hiện nay con trai thứ 2 đã lấy vợ và ông muốn cho con trai một mảnh đất để làm nhà ở, vậy khi cho con trai đất thì có cần chữ ký của những người con khác hay không?
Câu hỏi:
Gia đình ông Phàn A Hặc có 5 người con nhưng hiện nay con trai thứ 2 đã lấy vợ và ông muốn cho con trai một mảnh đất để làm nhà ở, vậy khi cho con trai đất thì có cần chữ ký của những người con khác hay không?
Trả lời:
Căn cứ theo quy định, để biết cha mẹ có cần xin ý kiến và chữ ký của những người con khác không, phải xem xét hai trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Đất là tài sản chung của cha, mẹ
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Đồng thời, tài sản chung vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Đặc biệt, căn cứ Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ chồng sẽ thoả thuận về việc định đoạt, sử dụng tài sản chung và khi định đoạt tài sản chung là bất động sản (hay còn gọi là nhà, đất) phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng.
Do đó, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi cha mẹ muốn tặng cho con đất thì chỉ cần hai vợ chồng tự thoả thuận với nhau mà không cần xin ý kiến hay chữ ký của bất kỳ người nào khác kể cả những người con khác.
Như vậy,  đất là tài sản chung của cha mẹ thì khi muốn tặng cho một trong số những người con, cha mẹ chỉ cần thoả thuận với nhau, cùng nhau quyết định mà không cần phải xin ý kiến cũng như không cần chữ ký của những người con khác.
Thứ hai: Đất là tài sản chung của cả hộ gia đình gồm cha mẹ và các người con
Tài sản chung của hộ gia đình được hiểu là tài sản này thuộc quyền sử dụng, sở hữu và định đoạt của toàn bộ người của hộ gia đình đó. Cụ thể, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (gọi tắt là Sổ đỏ) phải ghi "hộ ông/hộ bà/hộ ông bà/hộ...) thì nhà, đất này thuộc sở hữu của cả hộ gia đình khi có các điều kiện:
- Có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng.
- Sống chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất...
- Có quyền sử dụng đất chung.
Căn cứ khoản 1 Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, khi làm hợp đồng nói chung, hợp đồng tặng cho nói riêng, trong hợp đồng phải có người có tên trên Sổ đỏ hoặc người được uỷ quyền ký tên.
Đồng thời, theo khoản 5 Điều 14 Thông tư 02/2015/TT-NTNMT, người có tên trên Sổ đỏ chỉ được ký hợp dồng tặng cho khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực.
Như vậy, nếu đất là tài sản chung của hộ gia đình thì khi cha mẹ tặng cho đất cho một trong số những người con thì cần có sự đồng ý của những người con con lại. Đặc biệt, nếu những người con không thể ký vào hợp đồng tặng cho thì phải có văn bản uỷ quyền hoặc văn bản đồng ý tặng cho được công chứng hoặc chứng thực.
 
Lên phía trên
Gia đình Ông Lý A Chính đang có ý định thuê đất nông nghiệp nhưng được biết đất nông nghiệp đó chỉ có thời hạn sử dụng là 50 năm, vậy hết thời hạn 50 năm thì có bị thu hồi lại hay không.
Câu hỏi:
Gia đình Ông Lý A Chính đang có ý định thuê đất nông nghiệp nhưng được biết đất nông nghiệp đó chỉ có thời hạn sử dụng là 50 năm, vậy hết thời hạn 50 năm thì có bị thu hồi lại hay không.
Trả lời:
Căn cứ Điều 126 Luật Đất đai 2013, một số loại đất có thời hạn 50 năm và cách xử lý khi hết thời hạn sử dụng như sau:
TT Tên loại đất Thời hạn
sử dụng
Cách xử lý khi hết thời hạn
1 - Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp gồm:
- Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất rừng sản xuất
- Giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
- Đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng
Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp là 50 năm Nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn là 50 năm
2 Hộ gia đình, cá nhân thuê đất nông nghiệp Không quá 50 năm Khi hết thời hạn thuê đất, nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê
3 Tổ chức được giao đất, thuê đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm Nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá 50 năm
4 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất, thuê đất để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp
5 Tổ chức được giao đất, thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư
6 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất, thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam
7 Đối với thửa đất sử dụng cho nhiều mục đích. Thời hạn sử dụng đất được xác định theo thời hạn của loại đất sử dụng vào mục đích chính  
​                        Như vậy, đất 50 năm khi hết thời hạn sử dụng nếu có nhu cầu sử dụng thì được tiếp tục sử dụng. Nói cách khác, khi hết thời hạn sử dụng đất nông nghiệp (đất 50 năm) sẽ không bị thu hồi.
 
Lên phía trên
Gia đình ông Lò Văn Học hỏi có mảnh đất 100m2 đã xây nhà cấp 4 do bố mẹ để lại từ năm 2022 (có Hợp đồng tặng cho và có công chứng, chứng thực).
Câu hỏi:
Gia đình ông Lò Văn Học hỏi có mảnh đất 100m2 đã xây nhà cấp 4 do bố mẹ để lại từ năm 2022 (có Hợp đồng tặng cho và có công chứng, chứng thực). Gia đình ông sống yên ổn từ đó đến nay, đóng thuế đầy đủ nhưng do một số lý do ông chưa đi làm sổ đỏ được. Sắp tới ông được biết nhà nước sẽ thu hồi một phần diện tích đất vì có dự án làm đường. xin hỏi với trường hợp của gia đình ông thì có được bồi thường phần đất nhà nước thu hồi không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 Nhà nước thu hồi đất làm đường thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Căn cứ khoản 1, Điều 75, Luật Đất đai năm 2013 thì để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận);
- Có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 mà chưa được cấp.
Gia đình ông chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mảnh đất có diện tích 100m2. Tuy nhiên, theo nội dung ông cung cấp, gia đình ômg đang sử dụng đất ổn định và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có Giấy tờ hợp pháp về tặng cho quyền sử dụng đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Gia đình ông có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất điều này đồng nghĩa việc gia đình ông đủ điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Như vậy, gia đình ông chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất 100m2 vẫn có thể được bồi thường phần đất mà nhà nước thu hồi theo quy định pháp luật.
 
Lên phía trên
Ông Lò Văn Chài hỏi các hộ dân trong bản chúng tôi đanh sinh sống ổn định từ lâu đời rồi, nay nhà nước thu hồi đất để mở đường quốc lộ, vậy cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất.
Câu hỏi:
Ông Lò Văn Chài hỏi các hộ dân trong bản chúng tôi đanh sinh sống ổn định từ lâu đời rồi, nay nhà nước thu hồi đất để mở đường quốc lộ, vậy cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất.
Trả lời:
Căn cứ Điều 66 Luật đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền thu hồi đất như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
+ Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
+ Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
+ Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
+ Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
- Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.".
Như vậy, nếu diện tích đất thu hồi thuộc hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư của các hộ gia đình trong bản sẽ thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND huyện Tân uyên. Nếu đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã sẽ thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh.
Lên phía trên
Ông Vì Văn Vui hỏi: Đối với đất có 1 phần đất nằm trong lộ giới giao thông được nhà nước công nhận, khi phần đất này bị thu hồi để quy hoạch làm đường thì có được đền bù không ?
Câu hỏi:
Ông Vì Văn Vui hỏi: Đối với đất có 1 phần đất nằm trong lộ giới giao thông được nhà nước công nhận, khi phần đất này bị thu hồi để quy hoạch làm đường thì có được đền bù không ? Giá trị đền bù theo giá đất của ủy ban nhân dân tỉnh hay theo giá trị thị trường ạ? Đối với phần tài sản gắn liền trên đất nằm trong lộ giới giao thông thì sau khi thu hồi sẽ được đền bù như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 82 Luật đất đai năm 2013 quy định Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất, cụ thể, Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:
- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;
- Đất được Nhà nước giao để quản lý;
-  Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;
- Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này."
Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật đất đai năm 2013: Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
Như vậy, trường hợp của ông: phần đất nằm trong lộ giới giao thông được nhà nước công nhận, khi phần đất này bị thu hồi để quy hoạch làm đường mà phần đất này thoả mãn điều kiện được bồi thường theo quy định tại khoản 1 điều 75 và không thuộc các trường hợp nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất quy định tại điều 82 thì ông vẫn sẽ được bồi thường.
Theo khoản 3 điều 114 Luật đất đai năm 2013: Bảng giá đất và giá đất cụ thể
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể.
Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp.
Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.
Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất.
Như vậy, giá trị đền bù theo giá đất do UBND cấp tỉnh quyết định.
Về phần tài sản gắn liền với đất, Luật đất đai năm 2013 quy định như sau: Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.
- Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.
- Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
 - Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
+ Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;
+ Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;
+ Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;
+ Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
- Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
+ Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;
+ Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định".
"Điều 92. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất
- Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.
- Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng".
Như vậy, nếu phần tài sản gắn liền trên đất nằm trong lộ giới giao thông không thuộc các trường hợp nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất thì sẽ được bồi thường theo quy định tại các Điều 89, 90 Luật này.
 
Lên phía trên
Ông Lò Văn Cành hỏi nhà ông có mảnh đất đồi trồng cây lâu năm (Mắc ca). Nay huyện thu hồi để mở đường thì tôi được đền bù bao nhiêu tiền 1m2, cây Mắc ca tôi đã trồng được 3 năm ?
Câu hỏi:
Ông Lò Văn Cành hỏi nhà ông có mảnh đất đồi trồng cây lâu năm (Mắc ca). Nay huyện thu hồi để mở đường thì tôi được đền bù bao nhiêu tiền 1m2, cây Mắc ca tôi đã trồng được 3 năm ?
Trả lời:
Căn cứ Điều 90 Luật đất đai năm 2013 quy định về Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi như sau:
- Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
+ Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;
+ Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;
+ Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;
+ Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Vì vậy, ông có đất trồng cây lâu năm , khi bị nhà nước thu hồi đất thì mức bồi thường được tính bằng giá hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất.
 
Lên phía trên
Ông Tòng Văn Phơ hỏi nhà ông có diện tích đất 210m2 đã xây nhà và công trình phụ, trong đó 91 m2 đã có sổ đỏ. Vậy khi nhà nước thu hồi để mở rộng quốc lộ thì có được đền bù số diện tích đất chưa có sổ đỏ và công trình gắn liền trên đất không?
Câu hỏi:
Ông Tòng Văn Phơ hỏi nhà ông có diện tích đất 210m2 đã xây nhà và công trình phụ, trong đó 91 m2 đã có sổ đỏ. Vậy khi nhà nước thu hồi để mở rộng quốc lộ thì có được đền bù số diện tích đất chưa có sổ đỏ và công trình gắn liền trên đất không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 74 Luật đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
-  Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
-  Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
- Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật".
Điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013 như sau:
Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
Vì vậy, đối với phần diện tích chưa được cấp sổ đỏ của bạn, nếu đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà chưa được cấp trừ trường hợp đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định thì bạn sẽ được bồi thường.
Trong trường hợp diện tích đất chưa có sổ đỏ của bạn không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì bạn sẽ được bồi thường tài sản gắn liền với đất nếu không thuộc các trường hợp không được bồi thường theo quy định tại Điều 92 Luật đất đai 2013.
 
Lên phía trên
Gia đình Bà Nguyễn Thị H hỏi muốn tặng nhà đất cho con có phải lập hợp đồng và có cần phải công chứng hoặc chứng thực hay không?
Câu hỏi:
Gia đình Bà Nguyễn Thị H hỏi muốn tặng nhà đất cho con có phải lập hợp đồng và có cần phải công chứng hoặc chứng thực hay không?
Trả lời:
- Theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực.
- Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 và điểm d, đ khoản 2 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, chứng thực hợp đồng tặng nhà đất cho con được thực hiện tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có nhà đất (gọi tắt là cấp xã).

          Như vậy, gia đình phải công chứng hoặc chứng thực hợp đồng tại UBND phường nơi có nhà, đất.

          - Hồ sơ gồm: Theo khoản 1 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, người yêu cầu chứng thực nộp 01 bộ hồ sơ gồm các giấy tờ sau:

+ Dự thảo hợp đồng tặng cho nhà đất.
+ Bản sao chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân  của người yêu cầu chứng thực (mang bản chính để đối chiếu).
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (người dân hay gọi là Sổ hồng, Sổ đỏ).
Luật gia. THL

 
Lên phía trên
Gia đình Ông Lò Văn P cần tư vấn thủ tục tách thửa để chuyển nhượng cần phải thực hiện như thế nào, số tiền phải nộp là bao nhiêu?
Câu hỏi:
Gia đình Ông Lò Văn P cần tư vấn thủ tục tách thửa để chuyển nhượng cần phải thực hiện như thế nào, số tiền phải nộp là bao nhiêu?
Trả lời:

- Điều kiện để được tách thửa: Căn cứ khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT, để được tách thửa khi chuyển nhượng, tặng cho cần có đủ các điều kiện sau:

+ Có Giấy chứng nhận.
+ Đất không có tranh chấp.
+ Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.
+ Đất còn thời hạn sử dụng.
+ Thửa đất đáp ứng được điều kiện về diện tích và kích thước chiều cạnh tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Hồ sơ chuẩn bị để tách thửa: Khoản 11 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT quy định thành phần hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục tách thửa đất gồm có các giấy tờ sau:

+ Đơn đề nghị tách thửa theo mẫu (mẫu đơn tại địa chính xã).
+  Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp (Sổ đỏ, Sổ hồng). 
- Tách thửa mất bao nhiêu tiền:
+ Nếu chỉ tách thửa thì người dân chỉ phải trả phí đo đạc và lệ phí làm bìa mới (nếu có).
Tuy nhiên, việc tách thửa thường được thực hiện khi chuyển nhượng, tặng cho một phần diện tích đất hoặc chia đất giữa các thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (đất được cấp cho “hộ gia đình” và giờ các thành viên tách thửa) nên chi phí phải nộp có thể bao gồm cả lệ phí trước bạ, phí thẩm định hồ sơ.
 Phí đo đạc tách thửa: là khoản tiền trả cho tổ chức dịch vụ đo đạc (không phải nộp cho Nhà nước) nên khoản tiền này tính theo giá dịch vụ.
 Lệ phí trước bạ: chỉ nộp khi tách thửa gắn với việc chuyển nhượng, tặng cho,… quyền sử dụng đất.
Căn cứ Nghị định 10/2022/NĐ-CP và điểm a khoản 3 Điều 3 Thông tư 13/2022/TT-BTC, nếu không thuộc trường hợp được miễn thì tính như sau:
Trường hợp 1: Giá đất tại hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho cao hơn giá đất trong bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
Trường hợp 2: Giá đất tại hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng thấp hơn hoặc bằng giá đất trong bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định
Luật gia. THL
Lên phía trên
Gia đình ông Mùa Phạ S hỏi là có được chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm sang đất ở không?
Câu hỏi:
Gia đình ông Mùa Phạ S hỏi là có được chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm sang đất ở không? cơ quan nào có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thủ tục gồm những gấy tờ gì, mức tiền phải nộp là bao nhiêu.
Trả lời:
- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: căn cứ khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai 2013, trường hợp hộ gia đình muốn chuyển đất trồng cây hàng năm sang đất ở phải có quyết định cho phép của UBND cấp huyện.
Mặt khác, UBND cấp huyện không được tự ý ban hành quyết định mà phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin chuyển mục đích sử dụng.
Vì vậy, Ông Mùa Phạ S phải làm đơn xin chuyển đất trồng cây hàng năm  sang đất ở và chỉ khi có quyết định cho phép của UBND huyện  SH mới được chuyển sang đất ở.
- Thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Điều 59 Luật Đất đai 2013 quy định thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất như sau:
+ UBND cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đối với tổ chức.
+ UBND cấp huyện có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đối với hộ gia đình, cá nhân.
Trường hợp cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định.
- Căn cứ Điều 6 Thông tư 30/2014/TT-BTNMT quy định hồ sơ đối với hộ gia đình, cá nhân gồm các giấy tờ sau:
+ Đơn xin chuyển mục đích sử dụng theo mẫu
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ, Sổ hồng).
 Nộp hồ sơ đến bộ phận một cửa của UBND huyện SH.
- Mức tiền sử dụng đất phải nộp: Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất (được hướng dẫn bởi Điều 4 và Điều 5 Thông tư 76/2014/TT-BTC), tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân phải nộp tùy theo loại đất ban đầu được chuyển và nguồn gốc sử dụng đất. Số tiền phải nộp từng trường hợp là khác nhau
Luật gia. THL
 
Lên phía trên
Ông Tẩn A C cư trú Xã Tả Phìn, Sìn Hồ hỏi: Hộ gia đình Ông Tẩn A C và ông Tẩn Tông M có tranh chấp đất đai. Vụ việc sau khi hòa giải tại Tổ hòa giải của xã không thành
Câu hỏi:
Ông Tẩn A C cư trú Xã Tả Phìn, Sìn Hồ hỏi: Hộ gia đình Ông Tẩn A C và ông Tẩn Tông M có tranh chấp đất đai. Vụ việc sau khi hòa giải tại Tổ hòa giải của xã không thành đã được Ủy ban nhân dân xã tiếp nhận và tổ chức hòa giải theo đề nghị của Ông Tẩn A C. Tuy nhiên, việc hòa giải lần thứ nhất không tiến hành được vì ông M không có mặt. Ông C đề nghị cho biết, nếu ông M vẫn cứ vắng mặt trong lần tổ chức hòa giải tiếp theo thì phải giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Điểm c khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.
Như vậy, nếu đến lần hòa giải thứ hai mà ông M vẫn không có mặt thì được coi là hòa giải không thành. Ông C có quyền thực hiện tiếp các thủ tục đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan có thẩm quyền.
Luật gia. THL
 
Lên phía trên
Bà Lò Thị T hỏi: Gia đình Bà T và bà B có tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất. Tại cuộc họp hòa giải của Ủy ban nhân dân xã,..
Câu hỏi:
Bà Lò Thị T hỏi: Gia đình Bà T và bà B có tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất. Tại cuộc họp hòa giải của Ủy ban nhân dân xã, Bà T đã chấp nhận các thỏa thuận với bà B. Cuộc họp được xã lập biên bản hòa giải thành. Tuy nhiên, sau 4 ngày suy nghĩ lại và thảo luận với chồng, Bà T thấy một số thỏa thuận chưa thỏa đáng và muốn thay đổi ý kiến. Trường hợp này có được thay đổi nội dung biên bản đã lập không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
Luật gia. THL
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down